Wednesday, December 7, 2022

[NHÌN QUỐC HỘI, ĐOÁN CƠ CHẾ – ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ]


[NHÌN QUỐC HỘI, ĐOÁN CƠ CHẾ – ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ] Bạn có thể biết nhiều thứ về cơ chế chính trị một quốc gia bằng cách nhìn quốc hội của họ. Sau đây là vài ví dụ.

  1. Mỹ – Hạ Viện cũng như Thượng Viện, được thống trị bởi hai Đảng Dân Chủ và Cộng Hòa. Cơ chế lưỡng đảng của Mỹ dẫn đến sự tập trung, phân cực chính trị và rất khó để đảng thứ ba chen chân vào.
  2. UK – Hệ thống Westminster dẫn đến sự đa dạng trong đảng phái ở quốc hội. Cách thiết lập là một bên cầm quyền còn bên còn lại là đối lập.
  3. Australia – Hệ thống Westminster tương tự như Anh Quốc. Úc có sự đa dạng về tư tưởng cũng như đảng phái trong quốc hội nên ít phân cực.
  4. France – Pháp có sự phong phú về lập trường tư tưởng chính trị, bạn có thể thấy điều này bằng cách nhìn quốc hội. Không đảng nào nắm toàn quyền mà phải làm việc với nhau.
  5. Germany – Như Pháp, Đức có sự phong phú. Muốn thiết lập chính quyền thì phải có liên minh. Các đảng nhỏ luôn có tiếng nói vì đóng vai trò quyết định khi bỏ phiếu.
  6. Italy – Ý thì đa dạng hơn, không ai nắm đa số hay toàn quyền mà phải lập liên minh. Cho nên lập trường chính trị đa dạng.
  7. Hàn Quốc – Quốc hội được thống trị bởi hai đảng lớn nhất với số nhỏ lẻ bị lu mờ nhưng vẫn quan trọng.
  8. Taiwan – Quốc Dân Đảng và Dân Chủ Tiến bộ thống trị quốc hội hay thường thay phiên nhau cầm quyền. Các đảng nhỏ dù không cầm quyền nhưng luôn quan trọng.
  9. Việt Nam – Chỉ có một đảng. Tuy có vài thành viên độc lập nhưng chỉ là con rối.

Từ tấm ảnh chúng ta có thể thấy rằng các quốc gia văn minh luôn có sự đa nguyên về tư tưởng. Đó là bí quyết của thịnh vượng. Khi quyền lực bị tập trung quá nhiều thì sẽ dẫn đến nạn phân cực và lạm quyền.

Mục đích không phải là chọn phe hay đội như thể thao rồi trung thành mù quáng mà phải luôn giám sát để cải tiến. [23.10.2020]

Ku Búa @ Cafe Ku Búa


https://www.tumblr.com/cafekubua


 

TỰ DO BÁO CHÍ – Đâu là hướng đi cho tự do thông tin ở Việt Nam?


Photo of the day – WEGREEN: TỰ DO BÁO CHÍ – Đâu là hướng đi cho tự do thông tin ở Việt Nam?

Sẽ là buồn cười nếu tôi bắt đầu cho bài viết về báo chí – thông tin ở Việt Nam trong ngày WORLD PRESS FREEDOM DAY bằng những chỉ trích hay bình luận về thực trạng tự do báo chí mà chúng ta đang phải đối mặt. Nhưng lại sẽ là sai sự thực, nếu chúng ta phủ nhận quan điểm này.

Xét trên khía cạnh lịch sử, nền báo chí Việt Nam hình thành từ khá sớm và đặc biệt ban đầu đóng vai trò như một công cụ quảng bá chữ Quốc ngữ. Tờ báo đầu tiên “Gia Định báo” ra đời năm 1865 bằng chữ Quốc ngữ, là một cuộc cách mạng về truyền thông, mở đường cho các tờ báo tư nhân, quốc doanh nối tiếp ra đời bàn về đủ mọi nội dung từ kinh tế, chính trị, các vấn đề xã hội, có khi viết cả bằng chữ Nôm, chữ Hán hay cùng lúc song, tam ngữ… Dù đã từng bị kìm kẹp và hạn chế dưới thời thực dân-phong kiến, đã từng trở thành công cụ truyền bá tư tưởng, lừa mị dân chúng của chính quyền thực dân; nhưng có lẽ, chưa có một giai đoạn nào, nền báo chí Việt Nam lại lâm vào một tình trạng tiến thoái lưỡng nan và gặp nhiều thử thách như bây giờ.

Theo chính quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin, báo cơ bản có 5 vai trò:[1]

- Vai trò thông tin
- Vai trò giáo dục tư tưởng, cổ vũ hành động
- Vai trò khai sáng và giải trí
- Vai trò giám sát và phản biện xã hội
- Vai trò phục vụ kinh tế và quảng cáo

Trên những cơ sở sở đó, khi còn tham gia hoạt động cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng lên án gay gắt sự kiểm duyệt của chính quyền thực dân đối với hoạt động báo chí Việt Nam. Báo chí lúc này do chính quyền Pháp ở Đông Dương quản lý và kiểm duyệt. Chính quyền này đã cấm ngặt những tờ báo đả động đến chuyện chính trị hoặc có liên quan đến chính trị “Trước khi đưa đi nhà in, tất cả các bài báo phải dịch ra tiếng Pháp và đưa kiểm duyệt. Cấm ngặt những tờ thông tin ấy không được đả động gì đến những vấn đề chính trị hay tôn giáo, mà chỉ được đăng những tin tức thông thường, những vấn đề xét ra có lợi cho Nhà nước”[2]. Nó cũng áp dụng chế độ kiểm duyệt báo chí gay gắt. Không phải chỉ là vấn đề chính trị mà ngay cả những chuyện kinh tế, những sinh hoạt hàng ngày cũng bị theo dõi và kiểm duyệt gắt gao: “Các bạn chớ tưởng rằng mấy tờ báo thông tin khốn khổ ấy được tự do phân tích tất cả những cái thuộc về kinh tế. Chẳng hạn, họ không được nói đến đời sống đắt đỏ, đến việc mất mùa, đến việc buôn gian bán lận của bọn con buôn người Âu, đến việc xoay xở tiền nong bất lương của bọn quan cai trị, đến những vụ đầu cơ đê tiện của bọn chủ đồn điền và chủ nhà máy người da trắng” [2].

Sau khi hòa bình, độc lập, báo chí Việt Nam tưởng chừng như sẽ thay đổi một bộ mặt mới, diện mạo mới. Những tờ Nhân văn, Giai phẩm (1955-1958) được những trí thức cấp tiến yêu nước lập nên với một xu hướng chính trị, đòi tự do dân chủ, lời lẽ phản biện khá gay gắt và thẳng thắn. Những gương mặt lớn như Phan Khôi, Trần Dần, Văn Cao, Đặng Văn Ngữ, Đào Duy Anh, Nguyễn Đình Thi, Trần Đức Thảo, Nguyễn Tuân,… đều góp mặt với tư cách là những nhà phản biện xã hội với ý thức trách nhiệm rất cao. Đi ngược lại phong trào đó, sắc lệnh số 282/SL ngày 14-12-1956 do chính chủ tịch Hồ Chí Minh ký đã dập tắt phong trào với sự trừng phạt thẳng tay đối với những nhà phản biện – những chí sĩ yêu nước tham gia phong trào này. [3]

Kể từ đó đến nay, không có thêm một tờ báo tư nhân nào được ra đời nữa. Nền báo chí Việt Nam có lẽ bắt đầu một ngã rẽ mới kể từ ngày đó.

Nếu như vai trò thông tin kịp thời và chính xác là một vai trò tất yếu và đặc biệt quan trọng của báo chí, thì những vấn đề như việc mất quần đảo Hoàng Sa (1974-1988), và sự đe dọa về việc mất Trường Sa diễn ra không rõ từ bao giờ trong quá khứ, thì đến tận ngày hôm nay, thế kỉ 21, những năm 2000s, người Việt Nam mới ngỡ ngàng trên mặt báo những tin tức kiểu “Để không giật mình” [4] hay “Bi hài sinh viên Việt: 'TQ gọi Trường Sa, Hoàng Sa là... đảo lưỡi bò'!” [5] và cả “Sinh viên VN không biết tàu gì của Trung Quốc lởn vởn ngoài khơi!?” nay link đã bị xóa. Đọc những tin ấy, người ta không khỏi giật mình, vậy báo chí đã làm cái gì suốt 40 năm qua? Để nên nỗi người dân giật mình thon thót về quá khứ xa xôi đến thế? Và cớ làm sao lại ngày càng có nhiều hiện tượng sau vài tiếng đăng bài, tòa báo lập tức rút bài xuống, mà không có một đính chính hay xin lỗi gì đến độc giả?

Nếu như vai trò cổ vũ hành động và định hướng tư duy của báo chí, cũng được khẳng định bởi chủ nghĩa Marx-Lenin, thì nay khi người dân đi khiếu kiện tập thể để đòi lại công bằng cho bản thân, thì báo chí hùa nhau, bảo họ gây mất mỹ quan, làm xấu hình ảnh thủ đô. Người dân đi biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn trên biển Đông, cắt cáp tàu Việt Nam, thì báo chí hùa nhau, gọi đó là hành động được trả tiền, được giật dây bởi một cá nhân hay tổ chức “thế lực thù địch” nào đó mà không ai có thể chỉ rõ là thế lực thù địch nào. Nếu ác miệng, người ta có thể gọi là “chó cắn ma” theo tục ngữ của các cụ ta ngày xưa.

Nếu như vai trò của báo chí bao gồm giải trí và khai sáng, tôi xin nhấn mạnh KHAI SÁNG, thì nay nhan nhản trên hàng trăm tờ báo-Đảng là các tin lộ ngực, lộ hàng, hiếp dâm, gây sốc, nóng bỏng, hót, xì căng đan.... của các ngôi sao-nghệ sí mới nổi nào đó. Tìm mỏi mắt mới ra một tin có hàm lượng tri thức đủ cao để đọc xong người đọc có thể nhíu mày trầm ngâm gật gù một chút. Cũng xin bới móc cùng quí độc giả, chuyên mục gây “nhíu mày nhăn trán”, trầm ngâm nhiều nhất cho tôi ấy là mục “Trò chuyện Triết học” do học giả Bùi Văn Nam Sơn phụ trách trên SGTT, đã bị đỏng cửa một cách đột ngột mà tin đồn rằng đó là kết quả của một câu nói bâng quơ từ một ông lớn ghét triết nào đó “Báo tiếp thị thì bàn gì đến chuyện triết học”. Hẳn vị này phải tư duy biện chứng lắm, mới nhận ra được sức mạnh của triết học và ra cái lệnh cấm kì khôi này.

Có lẽ báo chí của ta đã và chỉ làm rất tốt vai trò quan trọng đối với sự phát triển và quảng bá thương hiệu và thúc đẩy kinh tế thông qua quảng cáo. Vậy còn những khía cạnh kinh tế khác? Có bao giờ bạn ngỡ ngàng và lúng túng khi gặp tin về thao túng trị trường vàng vừa được báo đăng sáng nay, đến chiều bỗng có ti vi công kích lại, hoặc là nhà nào đó đã gặp cảnh dở mếu dở cười khi vừa hôm trước báo nói giá đô la có khả năng hạ nhanh, vội vã bán ra, rồi tuần sau tiếc đứt ruột vì đô tăng chứ chẳng hạ. Hay nhà nông đổ xô nhổ cây này trồng cây kia hoặc thay vì trồng trọt thì nuôi đỉa hoặc nuôi rùa tai đỏ, để đến mức gây hại cho sinh thái và mùa màng. Báo chí Việt giờ đây giống như một tấm lưới bẫy người nhiều hơn là chức năng ma trận thông tin, góp phần làm phong phú thông tin và cập nhật cho người đọc xu hướng thời đại và cách phân tích, tiếp cận mới chất lượng và đúng đắn.

Nếu như ai đó đã quen tai với “Tam quyền phân lập” thì hẳn sẽ thích thú với sức mạnh của QUYỀN LỰC THỨ TƯ – Quyền lực của truyền thông và báo chí, và, hẳn người đó lại sẽ cay cú với sự hèn kém và ác độc không thể hơn của báo chí Việt Nam. Quyền lực thứ tư mạnh, vì nó phản biện xã hội, và bảo vệ lẽ phải, cũng như bảo vệ quyền được lên tiếng như là sinh mạng của nó. Nhưng Quyền lực thứ tư ở Việt Nam lại sẵn sàng sa thải một nhà báo, một phóng viên hay chấp nhận để một đồng nghiệp bị bỏ tù vì dám phản biện ông Tổng Bí thư, dám phân tích sâu về bản chất một hiện tượng lũng đoạn thị trường nhà đất/vàng, dám chụp ảnh ghi hình công an ăn hối lộ...

Tôi còn nhớ khi bé, tôi đã rất thích thú khi được đọc những loạt phóng sự điều tra trên An ninh thế giới; hoặc hâm mộ anh chàng nhà báo Tintin dù đó chỉ là một nhân vật hoạt hình, nhưng với lòng dũng cảm, dám xả thân để tìm đến công bằng và chân lý, đó sẽ mãi mãi là một hình ảnh đẹp về nhà báo trong lòng bất kì ai từng đọc và theo dõi những cuộc phiêu lưu Tintin.

Nước ta, cũng như các nước độc tài/đảng trị khác, không tồn tại cả ba thứ quyền lực đầu [6], nữa là đòi hỏi đến một thứ quyền lực thứ tư, cho các anh nhà báo.

Nhưng ở phương tây, khi internet và mạng xã hội ra đời, nó đã trở thành thứ QUYỀN LỰC THỨ NĂM, hỗ trợ cho sức mạnh của báo chí và như một dịch sởi bùng phát (mượn chữ của Fukuzawa trong Thoát Á Luận), không gì có thể ngăn cản được sức mạnh và sự lan truyền của nó. Với công cụ mới này, ai ai cũng có thể trở thành một phóng viên, một nhà báo nếu họ muốn.

Vậy bây giờ, chúng ta phải làm gì? Làm gì cho sự tự do thông tin, tự do báo chí của mình, và làm gì cho nền báo chí nước nhà đang bị trói chân trói tay, che tai, che mắt, bịt miệng?
Câu trả lời là sự lựa chọn của mỗi người.


Bạn có quyền tiếp cận với thông tin tự do, nếu bạn muốn, và bạn có quyền từ chối nó. Bạn có quyền viết ra những điều bạn cho là phải và quảng bá nó như một sự kích thích truyền thông, bạn cũng có quyền phản biện, đả kích một luồng thông tin mà bạn cho là lệch lạc. Xã hội ngày nay, đòi hỏi con người phải nhạy bén và tinh ý để phân biệt thông tin và lựa chọn chỗ đứng cho mình trong cái mạng lưới chằng chịt của nó.

Báo chí là công cụ của chính trị? Không sai, nhưng nó không phải là nô lệ của chính trị. Miến Điện, một nước độc tài năm ngoái, nay đã cởi trói, giải phóng cho truyền thông - báo chí của họ. Nhưng báo chí chính thống Việt Nam thì vẫn đang là cái loa cho chính trị, nó đã đánh mất đi cây quyền trượng của mình, và không còn khả năng phản biện xã hội nữa. Giờ đây, cây quyền trượng đó nằm trong tay các bạn, xây dựng một nền báo chí – thông tin tự do mới, hay vẫn nương vào bóng của báo chí chính thống?

Hãy là người tiêu thụ thông tin thông thái.
Và xin gửi lời chúc tốt lành cho một nền báo chí tự do của Việt Nam trong tương lai!
----------------------------------
Chú thích:
[1]http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:http://k3pr1.files.wordpress.com/2011/10/chucc9bcc81c-nacc86ng-xacc83-hocca3cc82i-cucc89a-bacc81o-chicc81.doc
[2] Hồ Chí Minh, toàn tập, Tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 404.
[3]http://thuvienphapluat.vn/.../Sac-lenh-282-SL-che-do-bao...
[4] http://www.baomoi.com/De-khong-giat-minh/144/10286193.epi
[5]http://xalo.vn/.../Bi-hai-sinh.../1115778-11-1-20-505387.htm
[6]http://www.tapchiqptd.vn/.../tam-quyen-phan-lap.../3707.html
----------------------------------
Bài viết: [Admin TKN]
Hình ảnh: [Admin T]

Sunday, December 4, 2022

BỘ CÔNG AN DOẠ XỬ LÝ “CÁC ĐỐI TƯỢNG TUNG TIN KÍCH ĐỘNG” NGƯỜI DÂN RÚT TIỀN KHỎI NGÂN HÀNG SCB


BỘ CÔNG AN DOẠ XỬ LÝ “CÁC ĐỐI TƯỢNG TUNG TIN KÍCH ĐỘNG” NGƯỜI DÂN RÚT TIỀN KHỎI NGÂN HÀNG SCB


Trong nhiều ngày gần đây, nhiều người dân tại nhiều nơi trên cả nước mua trái phiếu của ngân hàng SCB đã đến ngân hàng yêu cầu lấy lại tiền nhưng chưa được giải quyết. Có người gửi từ vài chục vài trăm triệu, đến có người gửi đến vài chục tỷ đồng.

Trước nguy cơ mất trắng và không biết bao giờ lấy lại được tiền. Từ đó, người dân bức xúc, tập trung lại yêu cầu ngân hàng trả lại tiền nhưng không được, nên đã có tình trạng tranh cãi xảy ra. Nhiều video được quay lại và đưa lên mạng xã hội cho thấy có sự có mặt của phía công an nhưng công an đã làm ngơ, bỏ mặc người dân và phía ngân hàng xô xát với nhau. Có trường hợp người dân đi đòi tiền còn bị nhân viên phía ngân hàng SCB hành hung lại.
Tại nhiều nơi, phía công an mặc sắc phục lẫn thường phục, kết hợp với nhân viên ngân hàng còn trấn áp, kéo lê, bắt những người dân đòi tiền ngân hàng SCB lên xe bus.

Hành động này từ phía công an là hành động làm ngơ, bảo kê cho ngân hàng, bỏ mặc số phận, tiền của của người dân gửi tiết kiệm tại Ngân hàng SCB.

Trên công thông tin Bộ Công An Việt Nam đưa tin, sau đó được một số tờ báo trong nước trích dẫn lại. Bộ Công An sẽ xử lý nghiêm các đối tượng tung tin thất thiệt, kích động người dân rút tiền ồ ạt tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB).

Nhưng Bộ Công An “lập lờ đánh lận con đen” không nói rõ thế nào là tiền người gửi tiết kiệm khác với người dân mua trái phiếu của Ngân hàng SCB.

Bộ Công An còn tuyên bố đe dọa người dân là sẽ xử lý các đối tượng kích động người dân rút tiền tại ngân hàng SCB.

Hành động này liệu có xứng đáng với khẩu hiệu luôn tuyên truyền của Bộ Công An là: “Vì Nhân Dân Phục Vụ”?

Hồng Hà


 

Friday, December 2, 2022

Sau ngày 30-4-1975


Sau ngày 30-4-1975 Bắc Việt Nam (BVN) chủ trương tiêu diệt triệt để tiềm lực Nam Việt Nam (NVN) về nhân lực, về kinh tế và về văn hóa nhằm củng cố việc cưỡng chiếm NVN và chận đứng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có thể hồi sinh ở NVN.

1.- Tiêu diệt nhân lực VNCH 

Trước khi tấn công Sài Gòn, Ban Bí thư Trung ương đảng Lao Động (đảng CS) từ Hà Nội đưa ra chỉ thị số 218/CT-TW ngày 18-4-1975, quy định chính sách đối với công chức và sĩ quan VNCH bị bắt như sau: “Đối với sĩ quan, tất cả đều phải tập trung giam giữ quản lý, giáo dục và lao động; sau nầy tùy sự tiến bộ của từng tên sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể. Những người có chuyên môn kỹ thuật [kể cả lính và sĩ quan] mà ta cần thì có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lý chặt chẽ, sau nầy tùy theo yêu cầu của ta và tùy theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội. Đối với những phần tử ác ôn, tình báo, an ninh quân đội, sĩ quan tâm lý, bình định chiêu hồi, đầu sỏ đảng phái phản động trong quân đội, thì bất kể là lính, hạ sĩ quan hay sĩ quan, đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toàn và quản lý chặt chẽ.” (Huy Đức, Bên thắng cuộc, I: Giải phóng, Los Angeles: Osin Book, 2012, tr. 39.)

Sau ngày 30-4-1975, nhà cầm quyền CS kêu gọi sĩ quan VNCH từ cấp thiếu úy trở lên, công chức cao cấp, và cán bộ chuyên viên VNCH ở các thành phố và các tỉnh thành từ Quảng Trị vào đến Cà Mau, trình diện và chuẩn bị lương thực, để học tập chính sách của “chính phủ cách mạng” trong ba ngày, hay một tuần hay một tháng tùy cấp bậc và tùy địa phương. Khi đại đa số sĩ quan, công chức VNCH trình diện (còn có một thiểu số người bỏ trốn), thì tất cả bị đưa đi giam giữ trong các trại tù gọi là trại học tập cải tạo trên các vùng rừng thiêng nước độc, không tuyên án và không thời hạn. 

Theo bộ Encyclopedia of the Vietnam War, sau biến cố năm 1975, số lượng sĩ quan, công chức và cán bộ VNCH bị bỏ tù khoảng hơn 1,000,000 người trên tổng dân số NVN lúc đó khoảng 20 triệu người. Tất cả bị giam tại trên 150 trại giam; theo đó, khoảng 500,000 được thả về trong 3 tháng đầu; 200,000 bị giam từ 2 đến 4 năm; 250,000 bị giam ít nhất 5 năm, và năm 1983 (tức sau 8 năm) còn khoảng 60,000 người bị giữ lại (Spencer C. Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Vol. two, Santa Barbara, California: 1998, tr. 602). Một tác giả trong nước cho biết rằng: “Ở Sài Gòn, 443,360 người ra trình diện, trong đó có hai mươi tám viên tướng, 362 đại tá, 1,806 trung tá, 3,978 thiếu tá, 39,304 sĩ quan cấp úy, 35,564 cảnh sát, 1,932 nhân viên tình báo các loại, 1,469 viên chức cao cấp trong chính quyền, 9,306 người trong các đảng phái được cách mạng coi là “phản động”. Chỉ 4,162 người phải truy bắt trong đó có một viên tướng và 281 sĩ quan cấp tá.” (Huy Đức, sđd. tr. 37.)

Trong số trên 1,000,000 người bị tù sau năm 1975, theo những cuộc nghiên cứu ở Hoa Kỳ và Âu Châu, có khoảng 165,000 nạn nhân đã từ trần trong các trại tù "cải tạo". (Anh Do & Hieu Tran Phan, “Millions of lives changed forever with Saigon's fall”, nhật báo Orange County Register, Chủ Nhật, 29-4-2001, phụ trang đặc biệt về ngày 30-4, tt. 2-3.)

2.- Tiêu diệt kinh tế VNCH

Song song với việc tiêu diệt nhân lực VNCH, CS tiêu diệt luôn tiềm lực kinh tế VNCH, để VNCH không thể hồi sinh. Đầu tiên, CS chiếm ngay số vàng của VNCH ở trong và ngoài nước. Ở trong nước, sau ngày 30-4-1975, từ đầu tháng 5-1975, CS kiểm kê 16 tấn vàng trong Ngân hàng Quốc gia ở Sài Gòn. (Google: Huỳnh Bửu Sơn “16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa”.) Lúc đó, CS tung tin thất thiệt rằng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đem số vàng nầy ra nước ngoài. Ở ngoài nước, trước ngày 30-4-1975, VNCH ký gởi 5,7 tấn vàng tại ngân hàng Bank fur Internationnalen Zahlung Sausgleih ở Thụy Sĩ. Số vàng được đưa qua Tiệp Khắc (lúc đó còn CS), và CSVN nhờ Tiệp Khắc bán để lấy ngoại tệ (Wikipedia.)

Về mặt xã hội, CS áp dụng kế hoạch kinh tế mới, nói là để phân phối lại dân số sau chiến tranh, nhưng thực tế là nhắm mục đích phân tán dân thành phố, buộc dân những thành phố lớn, như Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ đi về nông thôn, để cướp nhà cửa và tài sản của họ ở thành phố. Những gia đình có thân nhân bị bắt đi học tập cải tạo phải đi kinh tế mới, thì được hứa hẹn thân nhân sẽ được sớm trở về đoàn tụ gia đình. Những quân nhân, công chức, cán bộ chế độ VNCH nếu được thả ra từ các trại tù cải tạo, đều không được về ở các thành phố đã sinh sống trước đây, mà phải đi kinh tế mới. Những gia đình tư sản bị kiểm kê, dù là tư sản mại bản hay tư sản dân tộc, đều phải đi kinh tế mới. Mục đích của CS là trả thù, trù dập, cướp của, cướp nhà.

Khi đến vùng kinh tế mới, mỗi gia đình (CS gọi là hộ khẩu) được cấp 500m2 đất để sản xuất riêng. Ngoài ra, những người trong độ tuổi lao động, không đau ốm phải tham gia sản xuất trong hợp tác xã, làm công tính điểm và được trả lương theo số điểm. (Lâm Văn Bé, “Những biến động dân số Việt Nam”, tạp chí Truyền Thông, số 37-38, Montréal: 2010, tt. 132-133.)

Theo tài liệu trong nước: “Chỉ trong vòng vài năm, chúng ta [nhà cầm quyền CS] đã đưa được 1,300,000 người từ các nơi trong cả nước đến các vùng kinh tế mới và đã khai hoang, phục hóa được ngót một triệu hecta đất. Ủy ban nhân dân thành phố Sài Gòn vạch kế hoạch đưa trên trên một triệu đồng bào không trực tiếp lao động sản xuất đi xây dựng vùng kinh tế mới. Hơn một năm sau, đến tháng 6-1976, Sài Gòn đã tổ chức cho gần 30 vạn dân đi các vùng kinh tế mới, lập thành 94 xã, trong đó 82 xã ổn định về đất canh tác và thổ cư.” (Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư, Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III, Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 2001, tr. 282.) Một thống kê khác cho thấy từ năm 1976 đến năm 2000 (25 năm), có 5 triệu người bị cưỡng bách di dân đi vùng kinh tế mới. (Lâm Văn Bé, bđd. tr. 134.) 

Tuy nhiên, sau một thời gian ở vùng kinh tế mới, nhiều người kiếm cách trở về thành phố. Kế hoạch kinh tế mới không thành công, ngoài việc nhà nước CS cướp nhà cửa, tài sản các nạn nhân.

Ngày 10-9-1975, CS mở chiến dịch đánh “tư sản mại bản” (comprador) đợt 1. Theo CS, tư sản mại bản là những nhà đại tư bản trước năm 1975, chuyên xuất nhập cảng hoặc làm ăn buôn bán với người ngoại quốc, mà CS tố cáo giới nầy đã dựa vào thế lực nước ngoài để bóc lột dân chúng.

Ngày 22-9-1975, CS ra lệnh đổi tiền, 500 đồng tiền VNCH đổi lấy 1 đồng tiền Ngân hàng Việt Nam tức loại tiền mới của nhà cầm quyền CS. (Viện Kinh tế - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 45 năm kinh tế Việt Nam (1945-1990), Hà Nội: Nxb. Khoa Học Xã Hội, 1990, tr. 237.) Mỗi gia đình (hộ khẩu) được đổi tối đa 200 đồng mới. Tiền cũ còn dư phải gởi vào ngân hàng, rút ra và đổi từ từ.

Đây là một biện pháp nhằm cướp đoạt tài sản và làm nghèo dân chúng NVN. Lúc đó, xuất hiện câu ca dao: “Năm đồng đổi lấy một xu,/ Người khôn đi học [tập], thằng ngu làm thầy.” [Cộng sản đổi tiền lần thứ hai ngày 3-5-1978 và đổi tiền lần thứ ba ngày 14-9-1985. (Viện Kinh tế, sđd. tt. 237, 240.)]

Nhà nước CS mở chiến dịch đánh tư sản mại bản đợt 2 bắt đầu ngày 4-12-1975, nhắm vào những nhà tư sản nhỏ hơn, nhưng vẫn còn giàu có. Vào đầu năm 1978, CS mở chiến dịch đánh “tư sản dân tộc” do Đỗ Mười cầm đầu, gọi là “công tư hợp doanh”. Tư nhân phải đem cơ sở sản xuất hay kinh doanh riêng của tư nhân, vào hợp doanh với nhà nước. Tất cả doanh gia đều phải vào công tư hợp doanh (CTHD) mới được kinh doanh.

Nói là “công tư hợp doanh”, nhưng nhà nước không bỏ vốn, chỉ đứng ra quản lý, điều hành. Người chủ cũ (tư nhân) sẽ là một thành viên và lãnh lương theo quy định chức vụ hay cấp bậc. Nếu bị cất chức, chủ cũ xem như mất trắng tài sản của mình. Dân chúng mỉa mai gọi CTHD là “Của Tôi Họ Dành”.

Ở nông thôn thì CS thực hiện nền kinh tế chỉ huy nhanh chóng hơn, chủ trương “ruộng đất thuộc quyền sở hữu của toàn dân, nhưng do nhà nước quản lý.” Tất cả ruộng đất tư nhân đều bị quốc hữu hóa và nông dân, điền chủ đều phải vào hợp tác xã nông nghiệp hoàn toàn do cán bộ CS điều hành.

3.- Tiêu diệt văn hóa miền Nam 

Chủ trương nhuộm đỏ toàn dân NVN, CS buộc toàn dân học tập chủ nghĩa CS. Cộng sản xóa bỏ nền văn hóa, giáo dục VNCH, bãi bỏ nền giáo dục nhân bản, dân tộc và khai phóng ở miền Nam, thay bằng nền giáo dục phục vụ chế độ và đảng CS, nhằm đào tạo những con người hồng hơn chuyên, mang tính đảng nhiều hơn chuyên môn, biết vâng lời đảng CS hơn là biết suy nghĩ. Học sinh phải học thuộc lòng “Năm điều” do Hồ Chí Minh đề ra là: “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào. Học tập tốt, lao động tốt. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt. Giữ gìn vệ sinh thật tốt. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.” Không có điều nào dạy trẻ em có hiếu với cha me, thương yêu anh chị em, lễ độ, nhân ái và tín nghĩa với mọi người, tức không dạy đức dục cho trẻ em, vì CS chủ trương vô gia đình, vô tổ quốc. Vào năm cuối trung học, học sinh phải học và thi tốt nghiệp môn chủ nghĩa CS, lý thuyết Mác-Lê, lịch sử đảng CS Việt và CS thế giới. Sau khi tốt nghiệp, môn học nầy chẳng ứng dụng được gì vào đời, nên học sinh không thích học, thầy giáo không thích dạy.

Dưới chế độ CS, không có tự do ngôn luận. Cộng sản kiểm soát toàn bộ các sinh hoạt văn hóa, điều khiển chặt chẽ ngành truyền thông, Báo chí đều do cơ quan đảng xuất bản. Cộng sản đốt hết sách báo NVN mà CS cho là đồi trụy, kiểm duyệt kỹ càng các tác phẩm nghiên cứu, văn chương, ca nhạc... 

Về tôn giáo, CS chủ trương vô tôn giáo, và CS muốn tiêu diệt các tôn giáo nhưng không nổi, nên CS tìm cách kiểm soát, ngăn chận các sinh hoạt tôn giáo, hoạt động các tu sĩ, và lập ra các giáo hội quốc doanh do CS điều khiển, gây chia rẽ trong nội bộ các tôn giáo. Cộng sản không thể lập giáo hội Công giáo quốc doanh, cũng không ngăn chận được hoạt động các giáo sĩ, nên CS bí mật tìm cách phá hoại, khủng bố, và mua chuộc một số giáo sĩ. Với các hệ phái Tin Lành, các hội thánh riêng lẻ, độc lập, tự trị, hoạt động nhiều ở miền núi và cao nguyên vắng vẻ, nên CS theo dõi, hạn chế, uy hiếp hay bắt giam các giáo sĩ.

Kết luận

Đảng CS cưỡng chiếm được NVN, nhưng CS không chinh phục được lòng dân. Chủ trương tiêu diệt tiềm lực VNCH sau ngày 30-4-1975 nói chung là thất bại. Đúng như câu đồng dao dân chúng truyền tụng “Cộng Hòa chôn mà chưa chết”. Ngoại trừ việc CS chận đứng các lực lượng đối kháng, giữ vững chế độ CS, còn lại CS đều thay đổi theo VNCH. Đảng CS chỉ còn giữ cơ cấu độc tài đảng trị để duy trì quyền lực. Cũng đúng như dân chúng nói “Cộng sản chết mà chưa chôn”.

Trong khi đó, các trại tù cải tạo của CS không cải tạo được ai, mà chỉ gây thêm hận thù. Ra khỏi tù, ai cũng tìm cách vượt biên hoặc theo các chương trình ODP hay HO ra nước ngoài. Ra khỏi nước, người Việt tập hop thành những cộng đồng chống cộng. Ở trong nước, dầu bị CS kềm kẹp khắc nghiệt, vẫn xuất hiện nhiều nhà tranh đấu, đòi tự do dân chủ, chống CSVN, và chống mưu đồ xâm lăng của Tàu cộng.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 19-9-2018 ở Hòa Bình, tù nhân lương tâm Đào Quang Thực tuyên bố lời cuối cùng sau khi bị kết án 14 năm tù giam, 5 năm quản chế: “Tôi đấu tranh cho tự do dân chủ và quyền con người cho đất nước tôi. Tôi đấu tranh cho đất nước tôi được sống trong môi trường trong lành. Tôi không ân hận.” (http//www.facebook.com/VOATiengViet) (Đài phát thanh VOA ngày 19-9-2018). 

Về kinh tế, chính sách kinh tế chỉ huy của CS không kích thích nổi sự phát triển kinh tế, nên đất nước suy sụp. Lo sợ dân chúng nổi dậy, năm 1986, CS bắt đầu “đổi mới” kinh tế, bãi bỏ kinh tế chỉ huy, trở lại nền kinh tế thị trường, nay do CS kiểm soát, gọi là kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Kinh tế chỉ huy là nền tảng của chủ nghĩa CS. Bãi bỏ kinh tế chỉ huy có nghĩa là chủ nghĩa CS hoàn toàn thất bại. 

Về văn hóa, trước 30-4-1975, NVN vốn chủ trương văn hóa dân tộc cổ truyền, mở cửa đón nhận tinh hoa văn hóa thế giới. Sau năm 1975, CS truyền bá văn hóa Mac-xít, nhưng vô hiệu. Văn hóa cổ truyền vả tinh thần VNCH vẫn tiềm tàng trong dân chúng. Người BVN, kể cả toàn bộ cán bộ CS cao cấp, chuyển đổi hoàn toàn theo nếp sống văn minh và văn hóa NVN, ngoại trừ duy trì tổ chức độc tài CS.

Trong chiến tranh, CS đưa ra chiêu bài chống Mỹ cứu nước. Nay CSVN lại rước Mỹ giúp nước. Ngày 3-2-1994, Hoa Kỳ bỏ cấm vận Việt Nam và bình thường hóa ngoại giao ngày 11-7-1995. Từ đó, các nước tư bản bắt đầu vào Việt Nam đầu tư. Tuy nhiên, do CS không có cán bộ đủ năng lực quản lý nền kinh tế thị trường, nên tham nhũng tràn lan khắp nước.

Trong thời gian nầy, ngành Internet xuất hiện đúng lúc, làm bộc phát thông tin trên mạng lưới toàn cầu. Những bài viết của người Việt trong và ngoài nước phô bày thực trạng độc tài đảng trị, lệ thuộc Tàu cộng, kinh tế yếu kém, bóc lột, tham nhũng, tệ nạn xã hội... đều được đưa lên Internet.

Để duy trì quyền lực, CS duy trì độc đảng, độc quyền chính trị, văn hóa, truyền thông, với nền giáo dục phục vụ CS, và chỉ nới lỏng dần dần những luật lệ không quan trọng. Trộm cướp, đĩ điếm bộc phát, xã hội xáo trộn. Dân chúng không còn sợ nhà nước CS như trước, đua nhau khiếu kiện trên toàn quốc, và tham gia những cuộc biểu tình chống Trung Cộng đe dọa Biển Đông. Nhà cầm quyền CS đàn áp biểu tình, đàn áp tinh thần yêu nước của dân chúng, làm lộ rõ thêm bộ mặt phản quốc của CS.

Trong lúc đang khó khăn, thì thiên tai ập đến. Đồng bằng sông Cửu Long từ từ nhiễm mặn, khô cằn nứt nẻ. Vựa lúa của dân tộc bị đe dọa. Ngoài nước, cuộc thương chiến Hoa Kỳ-Trung Cộng từ 2018; dịch siêu vi khuẩn Vũ Hán (Trung Cộng) bùng phát đầu 2020, ảnh hưởng đến Việt Nam, vì kinh tế Việt Nam gắn liền với kinh tế Trung Cộng. Nếu tình trạng nầy kéo dài, Việt Nam có thể sẽ bị khủng hoảng trầm trọng. 

Ngày nay, sau 45 năm thống trị Việt Nam, dầu CS tuyên truyền thế nào đi nữa, thì dân chúng cũng không còn tin tưởng CS. Kinh tế suy thoái, ngân quỹ cạn kiệt, nợ nần tràn ngập đến hồi phá sản, đàn anh Tàu Cộng liểng xiểng, ghế dựa của CSVN lung lay. 

Trước khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, CSVN đã nhảy trước tại hội nghị Thành Đô tháng 9-1990, bỏ Liên Xô chạy theo Trung Cộng để tự cứu. Ngày nay, Trung Cộng đang khó khăn lụn bại, và lâm nguy, không còn dựa hơi được nữa, là cơ hội để CSVN nhanh chân thoát Trung, nhảy thêm bước nữa.

Có hai tấm gương trước mắt: 1) Từ năm 1990, các nước Đông Âu vĩnh viễn từ bỏ các chế độ CS. Chỉ sau vài thập kỷ, các nước Đông Âu hầu như bắt kịp các nước Âu Mỹ. 2) Hiện nay, trong nước, sinh viên, học sinh Việt Nam du học nước ngoài, đều chọn du học các nước Âu Mỹ. Trên 38,000 du học sinh Hoa Kỳ. Đó là chưa kể du học Anh, Pháp, Nhật, Úc. Chỉ một số rất ít được học bỗng mới qua Trung Cộng. Tuổi trẻ rất sáng suốt. Chuyến tàu đổi mới do sinh viên cầm lái đã khởi động. Các toa dân chúng đã đầy ắp. Chỉ toa dành cho lãnh đạo CS còn trống. Thiên thời đã sẵn sàng. Cơ hội không phải dễ có.

Vậy lãnh đạo CSVN hãy can đảm nhanh chân theo con em mình kẻo trễ. Còn hơn là lú lẫn ôm mãi cái chủ nghĩa CS lỗi thời, giữ chút hư danh và quyền lợi, cản đường dân tộc, lại lệ thuộc bắc phương, bị bắt nạt trên Biển Đông. Lâu lâu, Trung Cộng ngứa tay tát tai vài cái giải trí. Thật nhục nhã mà vẫn ngậm miệng ăn tiền. Rồi sẽ có lúc không tránh khỏi số phận Nicolae Ceausescu (Romania) chập chờn đâu đó!


 

Friday, November 25, 2022

NGHỀ DẠY HỌC - NGHỀ CAO QUÝ NHẤT TRONG CÁC NGHỀ CAO QUÝ ❤️



NGHỀ DẠY HỌC - NGHỀ CAO QUÝ NHẤT TRONG CÁC NGHỀ CAO QUÝ ❤️
Câu chuyện cô giáo Nguyễn Thị Ba, hơn 70 tuổi, đã nghỉ hưu, ngày đi bán vé số, đêm về miệt mài đứng trên bục giảng gieo con chữ cho trẻ em nghèo, lan truyền trên mạng xã hội đã gây xúc động mạnh cho nhiều thế hệ.
Cô Ba (trọ ở P.Hiệp Thành, Thủ Dầu Một, Bình Dương) là giáo viên tiểu học về hưu đã gần 20 năm. Vì không muốn vào viện dưỡng lão nên đã quyết định đi bán vé số cho khuây khỏa. Rồi hoàn cảnh đưa đẩy khi cô gặp được những em nhỏ phải mưu sinh từ sớm, không có điều kiện đi học nên cô xin vào dạy học miễn phí cho một lớp học tình thương.
Lớp có khoảng 20 em, rải đều từ lớp 1 đến lớp 5. Không chỉ dạy học, cô còn hỗ trợ mỗi em học sinh 5 kg gạo/tháng. Những gia đình khó khăn đưa con đến học cũng được hỗ trợ bằng số gạo mà mấy em lãnh được.
Sáng bán vé số, tối đi dạy, bà Ba duy trì hành trình ấy từ tháng 4.2016 đến nay và vô cùng hãnh diện. “Tôi đi bán vé số này, là tiền mình tự làm ra bằng mồ hôi công sức của mình, sau đó mình đem hỗ trợ cho các em.
Nếu mình có tiền sẵn, mình giúp các em thì cũng quý".
Vì muốn tập trung dạy học từ thiện “vừa giúp những đứa trẻ không có điều kiện được học hành lại vừa tiếp tục nghề của gia đình” nên đối với cô, cô rất yêu học trò, thương học trò và coi các em như con cháu của mình.
Nguồn: Cafe khởi nghiệp